Bản sửa đổi được ban hành dựa theo Mục 40 về Kiểm soát Cá sống, Luật Thủy sản năm 1985 (Luật 317) nhằm phân loại lại và hợp nhất các loài trong các nhóm hàng hóa tương ứng. Hơn nữa, bản sửa đổi bao gồm các yêu cầu về phân tích dịch bệnh, rủi ro an toàn sinh học và mục đích cụ thể của việc xuất khẩu sang Ma-lay-xi-a.
Các đối tượng áp dụng quy trình nhập khẩu chính:
- Cá tươi sống dùng làm thực phẩm;
- Cá tươi sống dùng làm nhân giống;
- Cá con nước ngọt tươi sống;
- Cá biển con tươi sống;
- Động vật giáp xác tươi sống dùng làm nhân giống;
- Động vật giáp xác con tươi sống;
- Động vật thân mềm tươi sống;
- Động vật không xương sống tươi sống;
- Thực vật thủy sinh tươi sống.
Yêu cầu đánh giá rủi ro và kiểm dịch đối với động vật thủy sinh sống nhập khẩu được quy định như sau:
1. Đối với cá sống dùng làm thực phẩm, yêu cầu kiểm dịch được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng cuối cùng của lô hàng. Các lô hàng được chỉ định giao trực tiếp cho nhà hàng để chế biến ngay được miễn áp dụng yêu cầu kiểm dịch.
2. Đối với các nhóm hàng hóa còn lại (từ mục ii đến ix), mức độ rủi ro nhập khẩu và thời gian kiểm dịch bắt buộc được xác định trên cơ sở đánh giá toàn diện, bao gồm mức độ mẫn cảm của loài, các bệnh thuộc danh mục phải khai báo của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), cũng như các rủi ro an toàn sinh học quan trọng khác.
Quy trình nhập khẩu này yêu cầu tất cả các nhà nhập khẩu phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện quy định trước khi lô hàng đến, đáp ứng các tiêu chuẩn về chứng nhận sức khỏe và thực hiện đầy đủ các thủ tục khi hàng đến Malaysia theo quy định tại Phụ lục I.
Theo Đạo luật Thủy sản năm 1985, “cá” được hiểu là mọi loài động vật hoặc thực vật thủy sinh, có hoặc không có tính định cư, bao gồm tất cả các loài cá có vây, giáp xác, nhuyễn thể, động vật có vú thủy sinh hoặc trứng, ấu trùng, cá bột, cá hương, con giống non của chúng; tuy nhiên không bao gồm các loài rái cá, rùa hoặc trứng của chúng.
|