| Tóm tắt |
Ô-xtrây-li-a dự thảo sửa đổi giới hạn tối đa dư lượng (MRL) đối với một số hóa chất nông nghiệp và thuốc thú y. Cụ thể:
- Đối với hoạt chất 1,4-dimethylnaphthalene, quy định bãi bỏ MRL cũ và áp dụng định nghĩa MRL mới. Đối với hàng hóa có nguồn gốc động vật (trừ sữa), định nghĩa dư lượng là tổng của 1,4-dimethylnaphthalene và chất chuyển hóa axit 4-methyl-1-naphthoic (M23), biểu thị dưới dạng 1,4-dimethylnaphthalene. Đối với sữa, định nghĩa là hợp chất glycine của axit 4-methyl-1-naphthoic (Gly-M23). Mức MRL áp dụng như sau: phụ phẩm ăn được (động vật có vú) ở mức 0,5 ppm; trứng, mỡ động vật có vú (trừ mỡ sữa), thịt động vật có vú, sữa đồng loạt ở mức 0,03 ppm; khoai tây ở mức 20 ppm; phụ phẩm ăn được của gia cầm ở mức 0,2 ppm; mỡ gia cầm và thịt gia cầm ở mức 0,3 ppm;
- Đối với hoạt chất Carboxin, bãi bỏ MRL đối với hạt ngũ cốc (trừ ngô ngọt) và đậu phộng. Áp dụng định nghĩa dư lượng mới (tổng của carboxin và các chất chuyển hóa carboxin sulfoxide, carboxin sulfone, biểu thị dưới dạng carboxin) và bổ sung MRL: hạt ngũ cốc (trừ ngô ngọt) ở mức 0,1 ppm; phụ phẩm ăn được (động vật có vú) ở mức T0,1 ppm; đậu phộng ở mức 0,2 ppm; trứng, thịt (động vật có vú), sữa, thịt gia cầm, phụ phẩm ăn được của gia cầm đồng loạt ở mức 0,03 ppm;
- Đối với Cyantraniliprole, bãi bỏ MRL đối với đậu cô ve (quả và/hoặc hạt non) ở mức T1 ppm; hạt đậu mọng nước có vỏ và hạt đậu Hà Lan mọng nước có vỏ ở mức 0,3 ppm. Bổ sung MRL cho rau ăn lá (trừ xà lách cuộn) ở mức 6 ppm; rau họ đậu (trừ phân nhóm đậu Hà Lan có vỏ) ở mức 0,4 ppm; xà lách cuộn ở mức 1,5 ppm; Psyllium sp. ở mức 0,01 ppm. Thay thế MRL cho phụ phẩm ăn được (động vật có vú) từ 0,05 ppm lên 0,1 ppm; thịt động vật có vú (trong mỡ) từ 0,01 ppm lên 0,03 ppm;
- Đối với Diafenthiuron, bãi bỏ MRL đối với hạt ngũ cốc ở mức T0,01 ppm. Đồng thời, bổ sung MRL cho hạt ngũ cốc (trừ psyllium sp.) ở mức T0,01 ppm; rau ăn lá (trừ xà lách cuộn) ở mức 8 ppm; rau họ đậu ở mức 0,9 ppm; xà lách cuộn ở mức 4 ppm; khoai tây và Psyllium sp. đồng loạt ở mức 0,03 ppm. Thay thế MRL đối với thịt động vật có vú (trong mỡ) từ 0,02 ppm lên 0,05 ppm;
- Đối với Fludioxonil, bãi bỏ MRL đối với đậu có vỏ (trừ đậu nành) ở mức 0,8 ppm; củ cải đường ở mức 0,01 ppm; các loại rau dạng củ và thân hành (trừ hẹ, phân nhóm hành tây) ở mức 3 ppm; đậu Hà Lan có vỏ ở mức 0,8 ppm. Bổ sung MRL cho hẹ Trung Quốc, hẹ tỏi ở mức 10 ppm; hẹ khô ở mức 70 ppm; hành lá (phân nhóm) (trừ hẹ, hẹ Trung Quốc, hẹ tỏi) ở mức 3 ppm; rau họ đậu ở mức 1,5 ppm; rau ăn rễ và củ (trừ cà rốt, củ cải đường, các loại rau dạng củ và thân hành) ở mức 0,9 ppm; các loại rau dạng củ và thân hành (trừ khoai tây) ở mức 0,03 ppm. Thay thế sung MRL cho hẹ từ T10 ppm thành 10 ppm; thảo mộc khô từ T70 ppm thành 200 ppm; thảo mộc từ T20 ppm thành 40 ppm;
- Đối với Imazamox, bổ sung MRL cho đậu gà (khô) ở mức 0,01 ppm;
- Đối với hoạt chất Imazapyr, bổ sung MRL cho đậu gà (khô) ở mức 0,01 ppm;
- Đối với Mandipropamid, bổ sung MRL cho hẹ, hẹ Trung Quốc, hẹ tỏi đồng loạt ở mức T4; thảo mộc khô (trừ lá húng quế khô) ở mức T200; củ thì là ở mức T20; thân rễ riềng, rễ nghệ đồng loạt ở mức T0,02; thảo mộc (trừ lá húng quế) ở mức T30; cỏ roi ngựa chanh (lá khô) ở mức T200;
- Đối với Penthiopyrad, bổ sung MRL cho củ thì là ở mức 15 ppm; lá thì là và thì là Tây Ban Nha đồng loạt ở mức 50 ppm;
- Đối với Pydiflumetofen, bãi bỏ MRL đối với đậu có vỏ ở mức 0,7 ppm; đậu Hà Lan có vỏ (phân nhóm) ở mức 1,5 ppm; khoai tây ở mức 0,01 ppm; rau ăn rễ và củ (trừ khoai tây) ở mức 0,3 ppm. Bổ sung MRL cho thảo mộc khô ở mức 150 ppm; thảo mộc ở mức 30 ppm; rau họ đậu ở mức 1,5 ppm; rau ăn rễ và củ (trừ các loại rau dạng củ và thân hành) ở mức 0,3 ppm; các loại rau dạng củ và thân hành ở mức 0,01 ppm;
- Đối với Spiromesifen, thay thế tên gọi Đu đủ (Papaya) thành Đu đủ (Papaya (pawpaw)) và giữ nguyên MRL ở 0,7 ppm.
Dự thảo dự kiến sẽ được thông qua, công bố và có hiệu lực trong tháng 11/2026. Thời hạn góp ý trước ngày 30/10/2026.
(Nội dung chi tiết tại file đính kèm NAUS641)
|