| Tóm tắt |
Thổ Nhĩ Kỳ dự thảo Quy chuẩn về nước ép trái cây và các sản phẩm tương tự thuộc Tiêu chuẩn Thực phẩm Thổ Nhĩ Kỳ, cụ thể đối với các sản phẩm bao gồm: nước trái cây, nước trái cây giảm đường tự nhiên, nước trái cây sản xuất từ cô đặc, nước trái cây cô đặc giảm đường tự nhiên, nước trái cây cô đặc, bột nước trái cây, mật hoa trái cây, mứt/trái cây nghiền nhuyễn (püre) và trái cây nghiền nhuyễn cô đặc.
Về giới hạn thành phần hóa học và độ axit trong nước ép cũng như trái cây nghiền nhuyễn, lượng cồn ethyl được quy định ở mức tối đa là 3 g/L. Hàm lượng axit dễ bay hơi không được vượt quá 0,4 g/L và axit lactic tối đa là 0,5 g/L. Nhằm mục đích điều chỉnh độ axit trong quá trình sản xuất, các nhà sản xuất có thể bổ sung tối đa 3 g/L nước ép chanh, chanh tây hoặc nước ép chanh, chanh tây cô đặc (tính theo axit citric khan). Bên cạnh đó, đối với quá trình khử sulfit áp dụng cho nước nho, tổng lượng lưu huỳnh dioxide trong sản phẩm cuối cùng bị giới hạn không được vượt quá 10 mg/L.
Đối với quy định về lượng nước và đường bổ sung, các loại nước ép cô đặc hoặc nước ép cô đặc giảm đường tự nhiên khi tiêu thụ trực tiếp bắt buộc phải loại bỏ ít nhất 50% lượng nước. Hàm lượng đường hoặc mật ong bổ sung vào nectar trái cây được kiểm soát chặt chẽ dựa trên tỷ lệ phần trăm so với tổng trọng lượng sản phẩm. Cụ thể, mức bổ sung tối đa là 20% đối với nhóm trái cây có tính axit cao không thể tiêu thụ tự nhiên cùng nước ép, 15% đối với nhóm trái cây ít axit, có nhiều thịt quả hoặc hương vị đậm đà, và 10% đối với nhóm trái cây có thể tiêu thụ tự nhiên cùng nước ép. Riêng đối với nước ép từ quả hắc mai biển, lượng đường bổ sung tối đa được quy định không vượt quá 140 g/L.
Phụ lục 3 quy định về tỷ lệ tối thiểu của nước ép hoặc trái cây nghiền nhuyễn trong nectar, các loại trái cây được chia thành ba nhóm. Đối với nhóm trái cây có tính axit cao, quả cơm cháy yêu cầu tỷ lệ cao nhất là 50%; tiếp theo là tầm xuân, các loại anh đào (trừ anh đào chua), việt quất, mâm xôi, mơ, dâu tây và mâm xôi đen ở mức 40%; anh đào chua ở mức 35%; quả lý gai, mận gai, mận, mận Damson, thanh lương trà và nam việt quất hạt to ở mức 30%; chanh dây, Quito/Lulo, lý chua đen, lý chua trắng, lý chua đỏ, hắc mai biển, mộc qua, chanh, chanh tây và các loại khác ở mức 25%. Đối với nhóm trái cây ít axit và có nhiều thịt quả như xoài, chuối, ổi, đu đủ, vải, sơ ri, mãng cầu xiêm, na rừng, na, lựu, điều, mận Tây Ban Nha và Umbu, tỷ lệ tối thiểu đồng loạt là 25%. Nhóm trái cây có thể tiêu thụ tự nhiên cùng nước ép bao gồm táo, lê, đào, dứa, cà chua và các loại cam quýt (trừ chanh) đều yêu cầu tỷ lệ nước ép tối thiểu là 50%.
Trong Phụ lục 4 quy định về độ Brix tối thiểu đối với nước ép trái cây và trái cây nghiền nhuyễn sản xuất từ dạng cô đặc, mức quy định cao nhất thuộc về chuối là 21,0. Tiếp theo là nho ở mức 15,9; mãng cầu xiêm và na là 14,5; xoài và anh đào chua là 13,5; lựu là 13,0; dứa là 12,8; chanh dây, mận và mận Damson là 12,0; lê là 11,9; điều là 11,5. Các loại táo, mơ, cam, quýt và vải có cùng mức quy định là 11,2; lý chua đen và thanh lương trà là 11,0; quả cơm cháy là 10,5. Nhóm bưởi tây, lý chua trắng, lý chua đỏ, việt quất bụi cao, việt quất bụi thấp, việt quất đen và đào đều được quy định ở mức 10,0. Các loại trái cây có mức quy định thấp hơn bao gồm tầm xuân là 9,0; ổi là 8,5; chanh là 8,0; quả lý gai và nam việt quất hạt to là 7,5; mâm xôi và dâu tây là 7,0; sơ ri là 6,5; hắc mai biển và mận gai là 6,0; cà chua là 5,0 và thấp nhất là dừa ở mức 4,5.
Thời gian chuyển tiếp tuân thủ quy định mới đến hết ngày 31/12/2027. Những sản phẩm đáp ứng quy định cũ nếu đã được đưa ra thị trường trước thời hạn 31/12/2027 sẽ được phép tiếp tục lưu hành cho đến khi hết hạn sử dụng.
Thời hạn góp ý trước ngày 26/10/2026. Dự thảo dự kiến được thông qua vào ngày 01/11/2026, công bố vào ngày 01/01/2027 và sẽ có hiệu lực ngay tại thời điểm công bố.
(Nội dung chi tiết tại file đính kèm NTUR38R1)
|