Danh sách thông báo dự thảo và quy định có hiệu lực về các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) của Thành viên WTO từ ngày 01/5 - 15/5/2026 

Từ ngày 01/5 - 15/5/2026, Văn phòng SPS Việt Nam đã tổng hợp được 53 thông báo của các nước thành viên WTO, trong đó bao gồm 43 dự thảo và 10 văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) có thể ảnh hưởng tới mặt hàng nông, lâm và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam (danh sách thông báo nội dung kèm theo).

Một số thông báo cần chú ý:

 

a) Thị trường Trung Quốc: Trung Quốc đã thông báo 29 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thực phẩm, tập trung vào kiểm soát ô nhiễm thực phẩm; vật liệu tiếp xúc thực phẩm; phụ gia thực phẩm; chất tăng cường dinh dưỡng thực phẩm; thực phẩm công thức dinh dưỡng đặc thù; sữa và sản phẩm từ sữa; thực phẩm từ hạt và quả hạch; và ghi nhãn thực phẩm dành cho chế độ ăn đặc biệt, cụ thể:

 

- Dự thảo sửa đổi Tiêu chuẩn quốc gia GB13432-2013 đối với ghi nhãn thực phẩm đóng gói sẵn dành cho chế độ ăn đặc biệt được thông báo tại Thông báo G/SPS/N/CHN/1360 ngày 11/5/2026. Theo đó, trong thời hạn sử dụng của sản phẩm, hàm lượng thực tế của các thành phần dinh dưỡng không được thấp hơn 80% giá trị ghi nhãn; riêng chất béo, chất béo bão hòa, đường và natri không được vượt quá 120% giá trị ghi nhãn. Dự thảo đồng thời bổ sung các yêu cầu về công bố dinh dưỡng, công bố chức năng, hướng dẫn sử dụng và điều kiện bảo quản đối với nhóm thực phẩm dành cho chế độ ăn đặc biệt.

 

 - Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về kiểm soát ô nhiễm hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) trong thực phẩm được thông báo tại Thông báo G/SPS/N/CHN/1386 ngày 12/5/2026, áp dụng đối với nhiều nhóm thực phẩm như ngũ cốc, thịt, thủy sản, dầu mỡ và sữa. Dự thảo đưa ra các yêu cầu nhằm kiểm soát nguy cơ ô nhiễm PAHs trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và bảo quản thực phẩm; đồng thời yêu cầu hạn chế nguồn ô nhiễm từ môi trường, nhiên liệu và quá trình gia nhiệt thực phẩm. Dự thảo khuyến khích áp dụng phương pháp sấy, hun khói gián tiếp thay cho đốt trực tiếp; kiểm soát nhiệt độ trong quá trình chế biến và không sử dụng các loại nhiên liệu có nguy cơ phát sinh PAHs cao như than đá, dầu diesel, lốp cao su hoặc gỗ thải đã qua xử lý hóa chất.

 

-  Nhóm thông báo còn lại chủ yếu sửa đổi, bổ sung các yêu cầu kỹ thuật đối với vật liệu tiếp xúc thực phẩm; phụ gia thực phẩm; chất tăng cường dinh dưỡng thực phẩm; thực phẩm công thức dinh dưỡng toàn phần; sữa và sản phẩm từ sữa; thực phẩm từ hạt và quả hạch.

 

b) Thị trường Nhật Bản: Nhật Bản thông báo điều chỉnh mức dư lượng tối đa (MRLs) đối với một số hoạt chất bảo vệ thực vật như chlorpyrifos, propamocarb, quinoclamine, spirodiclofen và spiropidion trên nhiều nhóm thực phẩm và nông sản (áp dụng đối với rau, củ, quả, ngũ cốc, trà, mật ong, sản phẩm có nguồn gốc động vật và động vật thủy sản). Đồng thời, Nhật Bản tiếp tục áp dụng mức giới hạn mặc định 0,01 ppm đối với các mặt hàng chưa được quy định MRLs riêng. Một số dự thảo được xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn Codex, trong khi một số nội dung có khác biệt do đánh giá riêng về phơi nhiễm và an toàn thực phẩm.

 

c) Thị trường Liên minh châu Âu: Liên minh châu Âu dự thảo sửa đổi các Phụ lục II, III và V của Quy định (EC) số 396/2005 liên quan đến mức dư lượng tối đa (MRLs) đối với carbofuran, imazalil, mandipropamid, propaquizafop, quizalofop-P-ethyl và quizalofop-P-tefuryl trong hoặc trên một số sản phẩm. Dự thảo điều chỉnh một số MRL theo hướng giảm, đồng thời cập nhật một số mức dư lượng phù hợp với dữ liệu đánh giá mới và giới hạn dư lượng tối đa của Codex (CXLs).

 

d) Thị trường Ấn Độ: Ấn Độ dự thảo sửa đổi Lệnh kiểm dịch thực vật đối với thực vật nhập khẩu năm 2003 (Thông báo G/SPS/N/IND/350). Theo đó, sầu riêng tươi có xuất xứ từ Việt Nam nhập khẩu để tiêu dùng sẽ không phải khai báo bổ sung trên Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật và không áp dụng điều kiện nhập khẩu đặc biệt. Nội dung dự thảo được xây dựng trên cơ sở phân tích nguy cơ dịch hại (PRA) phù hợp với ISPM số 2 và 11 của IPPC/FAO.

 

đ) Thị trường Thổ Nhĩ Kỳ: Thổ Nhĩ Kỳ thông báo ban hành yêu cầu nhập khẩu đối với một số sản phẩm thực vật (Thông báo G/SPS/N/TUR/160). Theo đó, từ ngày 01/7/2026, các sản phẩm hạt thì là và hạt rau mùi nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ phải kèm theo Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan bảo vệ thực vật quốc gia của nước xuất khẩu cấp và thuộc diện kiểm tra kiểm dịch thực vật khi nhập khẩu. Các lô hàng không có giấy chứng nhận hoặc không đáp ứng yêu cầu kiểm dịch sẽ bị trả lại hoặc tiêu hủy theo quy định.

 

e) Thị trường Cộng đồng Đông Phi: Cộng đồng Đông Phi dự thảo Tiêu chuẩn Đông Phi DEAS 1341:2026 về tỏi khô (ấn bản lần thứ nhất), theo đó, dự thảo quy định yêu cầu, phương pháp lấy mẫu và thử nghiệm đối với tỏi khô (Allium sativum L.) dùng làm thực phẩm ở các dạng lát, mảnh, hạt hoặc bột; đồng thời quy định yêu cầu về bao gói bằng vật liệu cấp thực phẩm nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn và an toàn của sản phẩm, ghi nhãn theo tiêu chuẩn EAS 38, bao gồm thông tin về tên sản phẩm, dạng trình bày, nhà sản xuất hoặc đóng gói, số lô, ngày sản xuất, hạn sử dụng, khối lượng tịnh, nước xuất xứ, hướng dẫn sử dụng và điều kiện bảo quản. 

 

Về chỉ tiêu chất lượng, tỏi khô phải đáp ứng các yêu cầu về độ ẩm (không quá 8%), tổng tro (không quá 5,5%), tro không tan trong axit (không quá 0,5%), hàm lượng hợp chất lưu huỳnh hữu cơ dễ bay hơi (không thấp hơn 0,3%) và hàm lượng chất chiết tan trong nước lạnh (từ 70% đến 90%).

 

Về yêu cầu an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật không được vượt quá mức tối đa theo hướng dẫn của Codex; hàm lượng kim loại nặng phải phù hợp với Codex Stan 193; tổng aflatoxin không vượt quá 10 μg/kg và aflatoxin B1 không vượt quá 5 μg/kg.

 

g) Thị trường Niu Di-lân: Niu Di-lân thông báo ban hành quy định mới về yêu cầu đối với nhà nhập khẩu thực phẩm đã đăng ký và thực phẩm nhập khẩu lưu thông thương mại năm 2026, thay thế quy định năm 2024. Quy định bổ sung yêu cầu quản lý đối với nhiều nhóm thực phẩm nhập khẩu có nguy cơ cao về an toàn thực phẩm (HRI), gồm gia vị khô, sữa và sản phẩm sữa, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, tahini, quả mọng đông lạnh, thịt bò và một số thực phẩm nguy cơ cao khác.

 

Thông tin góp ý đối với các thông báo dự thảo của Thành viên WTO (nếu có) gửi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường (thông qua Văn phòng SPS Việt Nam) trước (05 ngày) thời hạn nhận góp ý của thông báo, địa chỉ: số 10 Nguyễn Công Hoan, Giảng Võ, Hà Nội; điện thoại: 024 37344764; email: spsvietnam@mae.gov.vn.


D576CBB25CAB4F359471CB058451B371.pdf

Tin khác